VĂN PHÒNG TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ

Nhanh chóng - uy tín - chuyên nghiệp

Văn phòng tư vấn luật hình sự - Luật sư Quang Thái

Phân biệt trường hợp phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 và trường hợp vi phạm hợp đồng dân sự thông thường

Phân biệt trường hợp phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 và trường hợp vi phạm hợp đồng dân sự thông thường

Khi xem xét hành vi trong cấu thành tội phạm của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội xác lập quyền đối với tài sản bị chiếm đoạt thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác để có được tài sản một cách hợp pháp. Điều này tạo nên sự tương đồng đối với các giao dịch dân sự giữa các bên và đối tượng của giao dịch là tài sản.

Do đó, để có sự phân biệt trong việc xác định trường hợp nào hành vi được coi là trái pháp luật hình sự, trường hợp nào được coi là vi phạm thỏa thuận dân sự của các bên và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự có thể dựa trên một số đặc điểm sau:

Tiêu chí

Vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Đối tượng

Là sự chuyển giao lợi ích một cách hợp pháp thông qua giao dịch dân sự giữa các bên.

Về ý thức chiếm đoạt tài sản

Không có.

Một bên trong giao dịch sau khi nhận được tài sản không có ý định chiếm đoạt, không dùng thủ đoạn gian dối, không bỏ trốn hoặc có dấu hiệu bỏ trốn, không xác lập giao dịch để nhằm mục đích sử dụng tài sản đó vào những việc bất hợp pháp để dẫn đến không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác lập trong giao dịch giữa các bên.

Xuất hiện sau khi xác lập quyền đối với tài sản qua một giao dịch hợp pháp. Tức là sau khi có được tài sản người phạm tội mới xuất hiện mong muốn thực hiện hành vi chiếm đoạt thể hiện qua việc không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản hoặc dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp.

Hình thức thực hiện hành vi

Xác lập thông qua một giao dịch dân sự thông thường.

Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Giá trị tài sản bị thiệt hại

Không quy định mức cụ thể mà phụ thuộc vào giá trị trong giao dịch mà các bên xác lập.

tài sản bị chiếm đoạt phải có trị giá từ 4.000.000 đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới 4.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

 

Phân biệt trường hợp phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 và trường hợp vi phạm hợp đồng dân sự thông thường

Khi xem xét hành vi trong cấu thành tội phạm của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội xác lập quyền đối với tài sản bị chiếm đoạt thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác để có được tài sản một cách hợp pháp. Điều này tạo nên sự tương đồng đối với các giao dịch dân sự giữa các bên và đối tượng của giao dịch là tài sản.

Do đó, để có sự phân biệt trong việc xác định trường hợp nào hành vi được coi là trái pháp luật hình sự, trường hợp nào được coi là vi phạm thỏa thuận dân sự của các bên và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự có thể dựa trên một số đặc điểm sau:

Tiêu chí

Vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Đối tượng

Là sự chuyển giao lợi ích một cách hợp pháp thông qua giao dịch dân sự giữa các bên.

Về ý thức chiếm đoạt tài sản

Không có.

Một bên trong giao dịch sau khi nhận được tài sản không có ý định chiếm đoạt, không dùng thủ đoạn gian dối, không bỏ trốn hoặc có dấu hiệu bỏ trốn, không xác lập giao dịch để nhằm mục đích sử dụng tài sản đó vào những việc bất hợp pháp để dẫn đến không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác lập trong giao dịch giữa các bên.

Xuất hiện sau khi xác lập quyền đối với tài sản qua một giao dịch hợp pháp. Tức là sau khi có được tài sản người phạm tội mới xuất hiện mong muốn thực hiện hành vi chiếm đoạt thể hiện qua việc không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản hoặc dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp.

Hình thức thực hiện hành vi

Xác lập thông qua một giao dịch dân sự thông thường.

Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Giá trị tài sản bị thiệt hại

Không quy định mức cụ thể mà phụ thuộc vào giá trị trong giao dịch mà các bên xác lập.

tài sản bị chiếm đoạt phải có trị giá từ 4.000.000 đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới 4.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.



Pháp luật hình sự

© 2014 - Bản quyền Văn Phòng Luật Sư Quang Thái

Đặt lịch