VĂN PHÒNG TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ

Nhanh chóng - uy tín - chuyên nghiệp

Văn phòng tư vấn luật hình sự - Luật sư Quang Thái

Điều kiện để pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự

Điều kiện để pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự

Cùng với những thành tựu đạt được trong sự phát triển của kinh tế, những ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Theo đó, bên cạnh các hành vi vi phạm của cá nhân, một số pháp nhân vì lợi ích cục bộ đã có những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội. Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các doanh nghiệp thực hiện hành vi trái pháp luật như kinh doanh trái phép, buôn lậu, gian lận thương mại xảy ra khá phổ biến, gây nên thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho nền kinh tế, tác động xấu đến môi trường kinh doanh. Theo số liệu thống kê của Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong tháng 8 năm 2014, qua kiểm tra đã phát hiện 846 doanh nghiệp, hộ kinh doanh buôn bán, tàng trữ hàng hóa nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Những hành vi trái pháp luật của pháp nhân thực hiện thì có thể xử phạt vi phạm hành chính, buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trong bối cảnh của việc thi hành Luật Doanh nghiệp 2014, hoạt động quản lý, điều hành của doanh nghiệp không chủ được quyết định bởi cá nhân giám đốc/tổng giám đốc hoặc người điều hành doanh nghiệp theo quy định của điều lệ mà tồn tại không ít trường hợp quyết định được ban hành trên cơ sở bản bạc, thảo luận tập thể, quyết định tập thể và hưởng lợi ích tập thể. Vì vậy, việc quy trách nhiệm cho một cá nhân chịu trách nhiệm hình sự là không mang tính khách quan, công bằng, công minh của pháp luật. Điều này càng được biểu hiện rõ đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các loại hình công ty cổ phẩn, khi mà phần lớn chủ sở hữu thực sự của doanh nghiệp, pháp nhân này lại không phải là người trực tiếp điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề mới nên cần làm rõ những điều kiện để một pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ Điều 75 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về điều kiện để một pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

“Điều 75. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.”

1. Hành vi vi phạm được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

Pháp nhân nói chung và pháp nhân thương mại nói riêng là một tổ chức, do đó, hoạt động của pháp nhân được quản lý, vận hành bởi hành vi của thể nhân cụ thể. Không chỉ trong chế định của pháp luật hình sự quy định về trách nhiệm của pháp nhân đối với những hành vi được thực hiện bởi người đại diện nhân danh pháp nhân xác lập, thực hiện mà trong quy định của pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, điều này đã được quy định từ trước. Ví dụ như, căn cứ theo quy định tại Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân; pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trong quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm đối với trường hợp hành vi vi phạm thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại. Theo đó, những chủ thể nhân danh pháp nhân thương mại có thể gồm người đại diện theo pháp luật, người quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo ủy quyền thực hiện các hành vi nhân danh pháp nhân theo quy định tại Điều lệ pháp nhân. Căn cứ theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty[1].

2. Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại

Điều kiện này quy định nhằm phân biệt hành vi phực vụ lợi ích chung và hành vi phục vụ cho lợi ích cá nhân hoặc một nhóm chủ thể nhất định. Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc ủy quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích của cá nhân họ. Có thể nhận thấy quy định này thể hiện sự thống nhất với quy định của những văn bản pháp luật khác, ví như căn cứ theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác,...

Ví dụ:  Công ty cổ phần C giao cho A phụ trách giao dịch và vận chuyển hàng hóa mà Công ty mua được từ một đối tác Trung Quốc. Trong quá trình thực hiện công việc, A đã vận chuyển một số thuốc lá ngoại để tiêu thụ. Trên đường vận chuyển thì bị Công an bắt giữ, sau khi điều tra, xác minh thì số thuốc lá ngoại mà A vận chuyển không phải của Công ty C, mà của cá nhân A, do đó, A phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với hành vi vận chuyển thuốc lá lậu như trên mà không phải là Công ty C.

3. Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như giám đốc/tổng giám đốc, Hội đồng quản trị...

Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

Ví dụ: Một số Công nhân của Công ty A có nhiệm vụ kiểm tra các van xả nước thải theo quy trình xả thải đã được thiết kế và được cơ quan chức năng chấp nhận. Tuy nhiên, khi kiểm tra các van xả thải thấy có nhiều van đã hỏng, một số đường ống đã vỡ làm cho nước thải chảy ra sông. Các công nhân này đã gọi điện về báo cáo Giám đốc tình hình xả thải như trên và đề nghị tiếp tục cho xả thải ra môi trường. Khi được báo cáo, Giám đốc công ty đã đồng ý với biện pháp của các công nhân, mà không có biện pháp khắc phục trong một thời gian dài gây ô nhiễm nguồn nước làm cho các sinh vật sống ở sồng chết hàng loạt.

4. Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 tùy thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện, cụ thể:

-          05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

-          10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

-          15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

-          20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.



[1] Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014

 

Bài viết liên quan:

http://tuvanluathinhsu.com/quy-dinh-cua-phap-luat-hien-hanh-ve-cac-yeu-to-cau-thanh-cua-phap-nhan-thuong-mai-trong-toi-buon-lau-135-a8ia.html



Pháp luật hình sự

© 2014 - Bản quyền Văn Phòng Luật Sư Quang Thái

Đặt lịch