VĂN PHÒNG TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ

Nhanh chóng - uy tín - chuyên nghiệp

Văn phòng tư vấn luật hình sự - Luật sư Quang Thái

Bình luận về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015

Bình luận về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015

Khái niệm: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là việc người phạm tội thực hiện việc vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận được tài sản của người khác thông qua hợp đồng hoặc giao dịch hợp pháp rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Các yếu tố cấu thành tội phạm của “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015 được xác định như sau:


1. Chủ thể

Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt phải là người đủ 14 tuổi trở lên và khi thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình.

Tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Vì căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm tại khoản 1 Điều 175 (tội ít nghiêm trọng) và khoản 2 Điều 175 (tội nghiêm trọng).

2. Khách thể

Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo về và bị tội phạm xâm hại trong trường hợp này là: Quan hệ tài sản.

Nếu sau khi đã chiếm đoạt đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác như tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

3. Mặt khách quan của tội phạm

Các yếu tố trong mặt khách quan của tội phạm này bao gồm hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả. Cụ thể:

-          Hành vi: Bao gồm các giai đoạn:

  • Người phạm tội xác lập thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác để có được tài sản một cách hợp pháp.
  • Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Theo đó, nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản) thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trường hợp người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó (tài sản nhận từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp) vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thực tiễn xét xử thường coi những trường hợp dùng tài sản vào việc thực hiện tội phạm thì coi là bất hợp pháp với ý nghĩa là dấu hiệu cấu thành tội phạm như: dùng tiền vay được để hối lộ, để buôn lậu, để mua bán hàng cấm, để mua bán ma tuý, đánh bạc... Nếu không dùng tài sản vào mục đích phạm tội mà dùng vào mục đích bất hợp pháp khác thì phải xem xét đánh giá từng trường hợp cụ thể, để xác định hành vi đó đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

-          Hậu quả: Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015 thì người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản và mục đích này là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.



Pháp luật hình sự

© 2014 - Bản quyền Văn Phòng Luật Sư Quang Thái

Đặt lịch