VĂN PHÒNG TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ

Nhanh chóng - uy tín - chuyên nghiệp

Văn phòng tư vấn luật hình sự - Luật sư Quang Thái

Bình luận về một số tình tiết định khung tăng nặng của Tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015

Bình luận về một số tình tiết định khung tăng nặng của Tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015

Khi chủ thể thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của Tội buôn lậu, đồng thời, người phạm tội còn có thêm một trong các tình tiết sau đây thì phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi đã thực hiện.

1. Phạm tội có tổ chức

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm[1].

2. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện sau[2]:

-          Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;

-          Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Ví dụ: A là một người không nghề nghiệp, chuyên sống bằng nguồn thu thập từ việc phạm tội. Trong một thời gian, A liên tiếp thực hiện năm vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị từ năm trăm ngàn đồng trở lên). Trong trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp".

Lưu ý: Khi áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", cần phân biệt:

a. Đối với trường hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là “phạm tội nhiều lần”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.

Ví dụ: B đã bị kết án về tội “trộm cắp tài sản”, nhưng chưa chấp hành hình phạt hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt, trong một thời gian, B lại liên tiếp thực hiện bốn vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị từ năm trăm ngàn đồng trở lên). Trong trường hợp này, B phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bị áp dụng ba tình tiết tăng nặng là “phạm tội nhiều lần”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.

b. Đối với tội phạm mà trong điều luật có quy định tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là tình tiết định khung hình phạt thì không được áp dụng tình tiết đó là tình tiết tăng nặng tương ứng quy định tại Điều 48 của BLHS. Trường hợp điều luật không có quy định tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt thì phải áp dụng là tình tiết tăng nặng tương ứng quy định tại Điều 48 của BLHS.

3. Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia

Bảo vật quốc gia[3] được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Đây là trường hợp người sử dụng trái phép tài sản là người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để sử dụng trái phép tài sản.

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Nếu những người này, lợi dụng chức vụ để sử dụng trái phép tài sản thì mới thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ để phạm tội.

Người có quyền hạn là người được giao thực hiện một công vụ và do thực hiện công vụ đó nên họ có quyền hạn thông thường là người có chức vụ, nhưng cũng có thể là người không có chức vụ nhưng được giao hoặc được tham gia một công vụ.

5. Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức

Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức là người phạm tội thông qua cơ quan, tổ chức và trên cơ sở danh tiếng của cơ quan, tổ chức người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội.

6. Phạm tội 02 lần trở lên

Bộ luật Hình sự 2015 không có quy định tình tiết “phạm tội nhiều lần” mà chỉ quy định “phạm tội 02 lần trở lên” và được xác định là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52.1g BLHS 2015. Phạm tội 02 lần trở lên là một trong những tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự 2015, tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có một định nghĩa chung mà chỉ có đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần đối với một tội danh cụ thể nào đó. Trong thực tiễn hiện nay, trong quá trình khởi tố điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, này sinh những vướng mắc và nhận thức khác nhau, thậm chí là xung đột giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về việc áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.

Phạm tội nhiều lần[4] trong các tội phạm về ma túy được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội trở lên, mà mỗi lần đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điều luật, đồng thời, trong số các lần phạm tội đó chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo đó, có thể hiểu tương tự như các trường hợp phạm tội nhiều lần khác, thực hiện tội phạm buôn lậu nhiều lần là có từ hai lần trở lên và mỗi lần đều đã cấu thành tội phạm, không phụ thuộc vào khoảng cách thời gian từ lần phạm tội trước với lần phạm tội sau. Tuy nhiên, chỉ coi là phạm tội nhiều lần nếu tất cả những lần phạm tội đó chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu trong các lần phạm tội đó đã có lần  bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được tính để xác định là phạm tội sử dụng trái phép tài sản nhiều lần.

7. Tái phạm nguy hiểm

Yếu tố tái phạm nguy hiểm được xác định như sau:

-          Người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

-          Người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.



[1] Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015

[2] Mục 5 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP

[3] Khoản 7 Điều 4 Luật Di sản văn hóa 2001

[4] Mục 2.3 Chương I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP



Pháp luật hình sự

© 2014 - Bản quyền Văn Phòng Luật Sư Quang Thái

Đặt lịch